Skip to content

Những yếu tố gây mất an toàn ở nhà ống

Hiện nay, nhà ống là kiểu kiến trúc phổ biến ở khu đô thị mới và đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Kiểu kiến trúc này có những bất lợi về không gian và tiềm ẩn nhiều nguy cơ không an toàn mà các gia chủ không tính đến dẫn đến chất lượng cuộc sống của những người sống trong ngôi nhà bị ảnh hưởng và khi xảy ra sự cố thì khả năng thoát hiểm rất khó.

Trong bài viết này chúng tôi sẽ chỉ ra cho mọi người thấy được những yếu tố gây mất an toàn ở nhà ống:

1. Nhà quá kín

Các ngôi nhà ống ở thành phố hoặc ở các đo thị thường chỉ có một mặt thoáng phía trước. Nhiều nhà ống ở trong ngõ hẻm thì chỉ cần mở cửa sổ ở mặt tiền ra là từ nhà này có thể bước sang nhà kia. Chính vì thế mà nhiều gia chủ lo ngại về vấn đề an ninh nên họ thường chọn cách bịt kín các khoảng thờ đó bằng lồng sắt và cửa sổ sắt. Đến cửa chính của ngôi nhà còn được bảo vệ bằng ít nhất 2 lớp : cửa gỗ với cửa sắt hoặc cửa gỗ và cửa cuốn. Đây chính là một trong nhưng nguyên nhân chính gây cản trở cho việc thoát hiểm hoặc cứu hộ khi có sự cố xảy ra ở trong nhà.

2. Quá tận dụng diện tích

Nhiều chủ nhân của những ngôi nhà ống tận dụng vỉa hè để nhà được rộng hơn. Ngoài ra ở các tầng trên họ không nghĩ đến chuyện làm ban công. Lô gia mà xây hết để tăng diện tích phòng ở của ngôi nhà. Chính vì thế mà ngôi nhà trở nên bí bách, không khí không được lưu thông, không có khoảng đệm để ngăn chặn những tác động tiêu cực của môi trường và gây những tác động không tốt đến sức khỏe các thành viên trong gia đình.

3. Chỉ có một lối thoát hiểm duy nhất

Những ngôi nhà ống thường không làm lối thoát hiểm do diện tích nhỏ. Chính vì thế, khi xảy ra sự cố thì chủ nhân và các thành viên sống trong nhà chỉ có thể thoát hiểm bằng cửa ra vào. Tuy nhiên ở đây lại gặp một vấn đề đó là lối ra vào của ngôi nhà ống cũng thường là nơi để xe cộ nên rất khó để di chuyển. Hơn nữa trong những ngôi nhà ống có diện tích chật hẹp thì tầng 1 thường là nơi để xe và cũng là nơi để nấu ăn nên nếu có hỏa hoạn xuất phát từ bếp sẽ rất dễ bén lửa sang xe cộ.

4. Hệ thống điện của ngôi nhà không đảm bảo

Các ngôi nhà ống có tuổi đời khoảng 20 năm trở nên thì hầu như không có thiết kế về hệ thống điện đạt tiêu chuẩn. Và lúc xây dựng nhà thời điểm đó thì vật dụng tiêu thụ điện trong nhà ít nên đường dây tải thường nhỏ, đến nay thì gần như không đáp ứng đủ tải của các thiết bị cần thiết Hơn nữa trong quá trình dài thì hệ thống điện cũng đã bị xuống cấp nên rất dễ gây sự cố và chặn lối ra duy nhất của ngôi nhà dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

5. Thiết bị cứu hộ không đầy đủ

Hầu hết các ngôi nhà ống ở mặt phố đều tận dụng tầng 1 làm nơi kinh doanh. Tuy nhiên chúng lại không đáp ứng được quy chuẩn về phòng cháy chữa cháy của cửa hàng như hệ thống báo cháy, chữa cháy tự động, bình chữa cháy… Hơn nữa những ngôi nhà này có diện tích nhỏ mà gia chủ thì luôn muốn tích trữ nhiều mặt hàng để buôn bán nên vô tình đây đã trở thành một cái khó tiềm ẩn và tạo điệu kiện cho nhiều sự cố xảy ra.

Để giải quyết những vấn đề của những ngôi nhà dạng này thì bạn cần phải có thiết kế thật hợp lý, ví dụ:

mẫu nhà hẹp ngang 3m

mẫu nhà đẹp giá 500 triệu

mẫu nhà sàn bê tông đẹp

mẫu nhà 7x12m 1 tầng

mẫu nhà đẹp 2 tầng rộng 7m

Công trình kiến trúc độc đáo – Ngôi nhà không có cột

Đây là một ngôi nhà đặc biệt được đăng trên nhiều tạp chí kiến trúc nổi tiếng. Đây là một ngôi nhà được thiết kế và xây dựng công phu, thể hiện sự táo bạo, sự dày dạn trong phong cách thiết kế  nhưng tạo nên được không gian khác lạ và đẹp mắt.

Không giống như những công trình xây dựng thông thường khác, thường sử dụng khung cột bê tông làm kết cấu chịu lực nên chia ngôi nhà thành nhiều ô sàn và xuất hiện cột trong ngôi nhà. Ở đây thì đội ngũ thiết kế đã lựa chọn một giải pháp khung chịu lực khá là tốn kém nhưng đổi lại là một không gian rộng không có cột trong ngôi nhà.

Giải pháp được đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư lựa chọn ở đây là dựng hai bức tường bê tông cốt thép chịu lục chính chạy dọc theo hai đầu hồi của ngôi nhà cách nhau 10,5m. Hai bức tường này sẽ thay thế cho tất cả các cột ở giữa nhà để tạo nên một không gian nội thất bay bổng. Với thiết kế này thì mặt sàn các tầng được liên kết với hai bức tường bởi một đà lớn- đây là cấu trúc giống như cây cầu chỉ có một nhịp nhưng nhiều tầng. Với cách thiết kế này thì mặt sàn các tầng được  bố trí một cách tự do và thỏa sức thiết kế nội thất.

Ngôi nhà được thiết kế với cấu trúc không cột nên có một mặt tiền rộng kéo dài suốt bề ngang nhà. Với mặt tiền này thì các kiến trúc sư đã thiết kế một hệ cửa kính kéo dài theo bề ngang của ngôi nhà để tạo nên một màn hình lớn mà người trong nhà nhìn ra bên ngoài như đang được xem một bộ phim về thiên nhiên với một màn ảnh cực rộng. Không chỉ có thế, với kết cấu nhà không cột thì khu vực sinh hoạt chung của ngôi nhà đã trở thành một không gian nội thất được phát triển theo mọi hướng : dọc, ngang và cả chiều cao. Hơn thế, không gian này không bị rang buộc bởi hệ cột chịu lực nên tạo ra những góc nhìn ra khung cảnh bên ngoài đầy bất ngờ và táo bạo. Với lối thiết kế không cột này thì ánh sang tự nhiên tràn ngập vào trong ngôi nhà tạo cảm giác gần gũi với thiên nhiên.

Không gian riêng tư của ngôi nhà- phòng ngủ… cũng tràn ngập ánh sáng. Phòng ngủ riêng của vợ chồng chủ nhà cũng được thiết kế hết sức đơn giản nhưng vô cùng sang trọng và tinh tế. Gam màu chủ đạo là màu trắng và nâu. Tường và trần được sơn trắng, hai bên phòng ngủ là hai mảng kính lớn giống như những màn chình chiếu phim mà nội dung là cảnh vật xung quanh ngôi nhà. Điều này tạo nên một cảm giác dễ chịu và mang đến cho chủ nhà năng lượng tràn đầy vào mỗi buổi sáng khi thức giấc.

Giải pháp kết cấu được sử dụng cho ngôi nhà tuy có giá thành cao nhưng mang lại rất nhiều hiệu quả. Không chỉ có thế, các trang thiết bị đi kèm ngôi nhà cũng vô cùng đắt đỏ và kén chọn. Từ hệ thống chiếu sáng đến hệ thống điều hòa không khí. Điều này đòi hỏi đội ngũ thiết kế lên ngôi nhà là những người giỏi và sáng tạo.

Đôi sư tử đá – Nét đặc trưng của kiến trúc cổ Trung Quốc

Sư tử đá được coi là vật cát tường của người Trung Quốc. Vì thế, những chú sư tử đá thường được tạo hình với đủ các hình thù để đặt trước các danh lam thắng cảnh và viên lâm …của các công trình kiến trúc cổ bên Trung Quốc.

Theo truyền thống văn hóa xưa của Trung Quốc thì ở trước cổng cung điện, lăng tẩm, viên lâm, nha môn, miều đường, gia trạch lớn, cầu lớn… người ta thường đặt đôi sư tử đá để trấn trạch. Truyền thống này không chỉ được lưu truyền bằng miệng mà còn được ghi chép lại trong rất nhiều sử sách của Trung Quốc.

1. Nguồn gốc của sư tử đá

Sư tử là loài mãnh thú có long màu nâu vàng sống chủ yếu ở châu Phi và vùng phía Tây châu Á. Sư tử đực cổ có lông dài hơn sư tử cái được gọi là bờm và tiếng gầm cũng lớn hơn như tiếng sấm vang. Sư tử được mệnh danh là “vua của các loài thú” bời chúng thường săn và ăn thịt những loài động vật lớn như trâu rừng, bò, ngựa vằn, linh dương, hươu cao cổ…

Theo sử sách bên Trung Quốc ghi lại, từ thời Hán Vũ Đế đã sai Trương Khiên đi sứ bên Tây Vực để mở ra con đường thông thương với các nước Tây Vực. Điều này được ghi lại trong sách “Hậu Hán Thư” là: “Năm Chương Hòa thứ nhất đời Chương Đế, nước An Tức đi sứ dâng phù bạt và sư tử.”

Cùng với đó là quá trình truyền Phật giáo vào Trung Quốc thì tiếng gầm của sư tử được dùng để miêu tả âm thanh vang rền của Phật Đà thuyết Pháp. Tiếng thuyết Pháp như tiếng sư tử gầm mang thần uy chán nhiếp xua đuổi hết thảy tà thuyết ngoại đạo. Trong thời gian dài này thì sư tử đã dần thay thế địa vị của hổ – vua các loài thú ở trước kia. Điều này được ghi lại trong tác phẩm “Truyền đăng lục” của Đạo Nguyên- tăng nhân thời nhà Tống có viết: “ Khi phật Thích  Ca Mâu Ni giáng thế thì một tay Ngài chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất và tiếng nói của Ngài như sư tử gầm: Trên trời dưới đất, duy ngã độc tôn.”

Chính vì lẽ đó mà tiếng “Sư tử gầm” được dùng để miêu tả âm thanh vang rền khi Phật Đà thuyết Pháp. Vì thế mà trong Phật giáo coi sư tử là thần thú mang lại sự uy dũng, trang nghiêm và sự cát tường.

2. Kiến trúc từ thời nào bắt đầu sử dụng sử tử để trấn trạch

Trong quá trình truyền Phật giáo thì sư tử trở thành con vật được tôn sung trở thành con thú biểu trưng cho sự uy nghiêm, tôn quý và may mắn. Cũng từ đây, sư tử nhanh chóng trở thành đề tài của các tác phẩm nghệ thuật và điêu khắc. Và cũng từ đây thì trước cửa của các lăng tầm hay nghĩa trang của các dòng họ danh gia vọng tộc từ thời Hán Đường đã bắt đầu đặt sư tử đá ở trước cửa.

Đến thời Đường Tống sau này thì sư tử đá được xuất hiện rộng rãi trong dan gian. Lúc này tượng sư tử đá được coi như là thần thú gác cổng để bảo hộ gia đình, xua đuổi tà linh quỷ quái và mang lại may mắn, tài lộc, cát tường cho gia chủ,

Tượng sư tử đá được tạo hình ở mỗi thời kỳ có sự khác nhau nhất định. Tuy nhiên thì hình tượng sư tử đá về cơ bản đã cố định ở triều nhà Thanh. Hình tượng sư tử đá thời nhà Hán, Đường, Tống thường có những nét dữ tợn và to; sư tử đá đến thời nhà Nguyên thì gầy hơn nhưng mang sự hùng tráng mạnh mẽ;  sư tử đá thời nhà Minh được tạo hình khá hiền lành bởi có những nét ôn hòa.

Hình tượng sư tử đá không chỉ khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử mà ở mỗi địa phương khác nhau lại xuất hiện những nét đặc sắc. Dễ nhận biết nhất là hình tượng sư tử đá giữa miền bắc và miền nam. Sư tử đá ở miền Nam thường được điêu khắc trang trí cầu kỳ và phức tạp hơn, ngoại hình hoạt bát và thanh tú hơn. Trong khi đó thì sư tử đá ở miền bắc thì có ngoại hình hùng tráng và dữ tợn, uy nghiêm , điêu khắc đơn giản, chất phác.

Người xưa rất coi trọng thuyết âm dương nên trong việc đặt tượng sư tử đá cũng không phải là một ngoại lệ. Thông thường thì họ sẽ đặt một căp sư tử đá, một đực và một cái để tạo thành đôi. Tượng sư tử đực được đặt ở bên trái, tượng sư tử cái được đặt để bên phải để phù hợp với học thuyết âm dường và “nam tả nữ hữu”. Ngoài ra thì tượng sư tử đực thường được điêu khắc với chân đạp một quả tú cầu để tượng trưng cho quyền lực và sự uy nghiêm còn tượng sư tử đá thường được điêu khắc nép mình  bên dưới tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở và con cháu trường tồn.

Hy vọng những chia sẻ ở trên sẽ giúp bạn có thêm nhiều kiến thức trong việc thiết kế cũng như xây dựng nhà cửa, lăng tẩm …

Khám phá mô hình nhà ở mini tương lai độc đáo tại Trung Quốc

Tại triển lãm China House Vision có rất nhiều các mẫu nhà được các chuyên gia kiến trúc hàng đầu thế giới đánh giá rất cao. Một trong số đó là mô hình nhà ở mini tương lai của hai kiến trúc sư Oke Hauser và Corinna Natter. Họ nói rằng mẫu nhà mini này được lấy cảm hứng từ những con ngõ nhỏ của thành phố Bắc Kinh.

Theo hai kiến trúc sư thì mô hình ngôi nhà lúc đầu được thiết kế nhằm mục đích lưu giữ những nét di sản trong kiến trúc của thủ đô Bắc Kinh – kết nối giữa các khoảng sân phổ biến ở thủ đô Trung Quốc với các khu phố.

Mẫu nhà mini này là một trong những sản phẩm của chương trình MINI Living Urban Cabin. Trước đó chương trình này đã đưa ra những mẫu nhà tương tự tại các thành phố lớn như New York, Los Angeles và London. Để thiết kế được mẫu nhà này họ đã phải gặp gỡ với rất nhiều kiến trúc sư ở Bắc Kinh để tìm ra những không gian thích hợp với cấu trúc 15m2 rồi từ đó mới cho ra được những ý tưởng về không gian tiện nghi trong một căn nhà.

 Hai kiến trúc sư đã rút ra rất nhiều kinh nghiệm qua viêc nghiên cứu những ngôi nhà trong ngõ nhỏ tại thủ đô Bắc Kinh. Để từ đó tìm ra hướng tiếp cận và kết nối với kiến trúc truyền thống nơi đây. Từ đây ngôi nhà được thiết kế gồm có một phòng khách và một phòng ngủ, còn phòng bếp và phòng tắm ở phía bên kia. Các phòng đều tiếp xúc với khoảng sân giữa của cấu trúc ngôi nhà. Vì thế mà họ gọi đây là “Cabin đô thị”.

Hình ảnh bên ngoài ngôi nhà được lấy cảm hứng từ các phần mở rộng tạm thời của những ngôi nhà trong ngõ nhở ở Bắc Kinh. Đây là những phần cơi nới của nhiều gia đình nơi đây nhằm tăng không gian sử dụng trong nhà của họ được đặt ở các góc khác nhau của phần mái nhà. Bên dưới hệ cấu trúc của các phần mái đua ra đươc lót bằng một vật liệu có thể phản chiếu. Loại vật liệu này có tính năng gần như những chiếc gương có tác dụng phản chiếu những đồ vật yêu thích trong nhà.

Ở đây, hai kiến trúc sư đã khéo léo đặt một chiếc xích đu vào không gian của ngôi nhà để gợi nhớ những ký ức của mình khi còn sống trong những con ngõ nhỏ. Đây là điểm độc đáo giúp kết nối không gian ngoại thất và không gian nội thất, kết nối không gian cảm xúc và không gian vật lý.

Theo hai kiến trúc sư thì: “Kiến trúc không chỉ tạo nên không gian để bảo vệ mà kiến trúc còn tạo nên điều gì đó cho niềm vui và cho tình yêu.”. Chính vì thế mà nội thất của ngôi nhà được lót bằng ván ép ngắt quãng bởi những lỗ tròn. Chúng cho phép ánh sang đi vào và ra khỏi ngôi nhà làm không gian bên trong thân thiện với môi trường thiên nhiên. Không chỉ thế những tấm gỗ này còn có thể xoay để người bên trong nhà có thể chia sẻ không gian của mình với những người bên ngoài nếu muốn.

Mô hình ngôi nhà ở mini này thực sự là một trong những giải pháp kiến trúc cho không gian sống đô thị trong tương lai.

Nhà thờ Lớn Hà Nội- công trình kiến trúc tiêu biểu

Nhà thờ Lớn Hà Nội có tên chính thức là Nhà thờ chính tòa Thánh Giuse – là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội. Nhà thờ Lớn không chỉ là một trong những công trình Thiên chú giáo được xây dựng sớm nhất ở Hà Nội mà còn là một trong những công trình kiến trúc nhà thờ đẹp nhất ở nước ta.

1. Lịch sử nhà thờ Lớn Hà Nội

Nhà thờ Lớn Hà Nội được xây dựng trên khu đất trước đó vốn là chùa Báo Thiên (Sùng Khánh Báo Thiên tự). Chùa Báo Thiên được xây dựng năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Chùa là trung tâm Phật giáo của kinh đô Đại Việt suốt 400 năm. Đến đầu thế kỷ thứ XV, chùa bị giặc Minh phá hủy và cướp bóc nhiều bảo vật trong chùa. Một trong số các bảo vật đó là tháp Báo Thiên- một trong “An Nam tứ đại khí”. Đến thời nhà Lê, chùa Báo Thiên được trùng tu. Cuối thế kỷ XVIII, chùa bị hủy hoại nặng nề sau một trận hỏa hoạn lớn. Toàn thể các nhà sư trong chùa được chuyển đến các chùa khác nhau ở kinh đô, vì thế chùa Báo Thiên trở nên hoang phế bỏ không.

Năm 1882, quân đội Pháp chiếm Hà Nội lần thứ hai. Năm 1883, tổng đốc Nguyễn Hữu Độ giao khu đất chùa Báo Thiên cho giám mục Puginier để xây dựng Nhà thờ chính tòa thánh Giuse. Công trình được khởi công xây dựng vào năm 1884 và khánh thành vào đúng dịp Noel năm 1887.

2. Kiến trúc nhà thờ Lớn Hà Nội

Nhà thờ Lớn được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothique và chịu ảnh hưởng lớn từ kiến trúc của “Nhà thờ Đức Bà Paris”(Pháp). Nhà thờ có chiều rộng 20,5m , chiều dài là 64,5m  và chiều cao hai tháp chuông là 31,5m.

Về mặt tổng quan hình dáng bên ngoài nhà thờ được chia làm 3 phần: hai tháp chuông cao vút ở hai bên, ở giữa là khối thấp hơn với điểm nhấn là cây thánh giá. Ở trước nhà thờ Lớn là một quảng trường nhỏ đặt tượng Đức Mẹ để tăng thêm giá trị cảnh quan bên ngoài. Các cửa ra vào và các cửa sổ của nhà thờ đều sử dụng hình thức vòm cuốn nhọn theo phong cách kiến trúc Gothique châu Âu. Mái nhà thờ là hệ thống mái ngói đất nung mang đậm tính truyền thống Việt Nam.

Kiến trúc bên trong nhà thờ cũng được chia làm ba phần chính: Đầu tiên là sảnh đón tiếp, phía trên sảnh có gác đàn- là nơi dành cho ca đoàn. Tiếp theo là nơi dành cho giáo dân hành lễ và cuối cùng là nơi cử hành thánh lễ- cung thánh. Cung thánh được trang trí lộng lẫy với các ban thờ được làm bằng gỗ chạm trổ hoa văn và sơn son thếp vàng mang đậm tính truyền thống Việt Nam.

Tuy mặt đứng bên ngoài của nhà thờ chia làm 3 nhịp nhưng bên trong nội thất lại chia thành 5 nhịp. Nhịp ở giữa rộng hơn gấp đôi so với các nhịp biên.

Mái vòm bên trong nhà thờ cũng sử dụng hình thức cuốn nhọn của kiến trúc Gothique. Cửa sổ hai bên được thiết kế theo những nhóm gồm 3 cửa, hai bên là hai cửa sổ thấp, ở giữa là cửa cao tạo nên nhịp điệu liên hoàn. Mỗi một cửa sổ là một bức tránh thánh sử dụng kính màu. Những ô  cửa sổ đều mang ánh sáng tự nhiên vào trong với những sắc màu ảo diệu của cửa kính.

Cung thánh nằm ở chính giữa có hình bán nguyệt là ban thờ Thánh Giuse. Hai bên là ban thờ Thánh Alton và ban thờ các Thánh tử vì đạo. Ở giữa ban thờ Thánh Giuse là bức tượng thánh cao 2m, phía sau là những ô cửa kính lớn bố trí theo mặt vòng cung. Phái hai bên không gian hành lễ còn có ban thờ “Lái tim chúa Giesu” và ban thờ Đức Mẹ.

Điểm đặc biệt của nhà thờ Lớn là ở ngay trong lòng thánh đường còn có 3 ngôi mộ của 3 vị Hồng y nằm phía trên gần cung thánh. Ba vị Hồng y đó là : Hồng y Trịnh Như khuê (ở giữa), hai bên là Hồng y Trịnh Văn Căn và Hồng y Phạm Đình Tụng.

Nhà thờ Lớn Hà Nội là sản phẩm của sự giao lưu hai nền văn hóa Đông – Tây đặc sắc. Đây được coi là công trình kiến trúc Nhà thờ tiêu biểu và là một trong những nhà thờ Công giáo đẹp nhất cả nước. Đây cũng là công trình đánh dấu một giai đoạn phát triển đặc biệt của Hà Nội và là một công trình kiến trúc tiêu biểu.

7 công trình kiến trúc nổi bật của thành phố Rio De Janeiro

Thành phố Rio De Janeiro của Brazil là một trong những thành phố sôi động bậc nhất. Nơi đây có những công trình kiến trúc độc đáo, có giá trị nổi bật toàn cầu . Tổ chức  Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) và Liên hiệp hội Kiến trúc sư quốc tê (UIA) đã bình chọn nơi đây là “Thủ đô Kiến trúc Thế giới”.

Dưới đây là 7 công trình kiến trúc nổi bật của thành phố Rio De Janeiro.

1. Nhà thờ Sao Sebastiao

Nhà thờ Sao Sebastiao được thiết kế theo phong cách kiến trúc ki tự tháp của người Maya nhưng hiện đại hơn. Đây là một trong những công trình nổi tiếng được thiết kế bởi kiến trúc sư Edgar Fonseca. Nhìn từ bên ngoài, các bức tường của nhà thờ như chụm lại ở độ cao 75m khiến cho chúng ta thấy đươc sự to lớn của tòa nhà . Đồng thời các dãy cửa sổ làm bằng kính xếp liền nhau làm cho du khách có cảm giác choáng ngợp.

2. Bảo tàng của Ngày mai (Museu do Amanhã)

Bảo tàng được thiết kế bởi kiến trúc sư Santiago Calatrava. Đây là một công trình nghệ thuật tuyệt đẹp nằm ở trên bến tàu Maua. Đứng ở tòa nhà, du khác có thể ngắm nhìn được toàn bộ cảnh đẹp của vinh Guanabara. Nhìn từ bên ngoài, bảo tàng có những đường nét thiết kế uốn lượn mang đặc trưng cho phong cách kiến trúc của Calatrava và lấy cảm hứng từ văn hóa Carioca.

3. Tu viện São Bento (Mosteiro de Sao Bento)

Tu viện São Bento là một trong những tu viện cổ và lâu đời nhất ở thành phố Rio de Janeiro còn sót lại cho đến ngày nay. Dưới sự chỉ đạo của kỹ sư quân sự Francisco de Frias da Mesquita, tu viện được khánh thành năm 1671. Tu viện có bề ngoài rất đơn sơ giản dị nhưng bên trong là nội thất  sang trọng, tỉ mỉ và công phu theo phong cách kiến trúc thời kỳ thuộc địa.

4. Cidade Das Artes

Tòa nhà là khu phức hợp nghệ thuật đại diện cho phong cách kiến  trúc tiêu biểu của Brazil. Mặc dù tòa nhà là một biểu tượng của công trình công cộng nhưng với những đường né thiết kế táo bạo và nổi bật đã làm cho không gian, cảnh quan nơi đây trở nên tuyệt đẹp.

Tòa nhà là một công trình nghệ thuật được thiết kế bởi kiến trúc sư tài năng Christian de Portzamparc.

5. Bảo tàng nghệ thuật đương đại Niteroi

Bảo tàng nghệ thuật đương đại Niteroi có hình dáng như một chiếc đĩa bay nổi lên từ mặt nước.Đây là một trong những thiết kế của kiến trúc sư nổi tiếng nhất Brazil – Kts Oscar Niemeyer. Bảo tàng được xây dựng trên một vách đá của vịnh Guanabara. Để vào được trong bảo tàng thì du khách phải đi một đoạn đường 98m. Từ trong bảo tàng du khách cũng có thể nhìn được toàn cảnh khu vịnh.

6. Bảo tàng nghệ thuật Rio (Museu de Arte do Rio)

Bảo tàng là sự kết nối của 3 tòa nhà đã có gồm trạm xe buyt trung tâm của Rio, cung điện Palacete Dom João và trụ sở cảnh sát cũ của thành phố. Bảo tàng được thiết kế bởi kiến trúc sư nổi tiếng là Bernardes và Jacobsen Architecture. Điểm đặc biệt của bảo tàng nghệ thuật là phần mái liên kết 3 tòa nhà cũ nhấp nhô dạng sóng có thể nhìn thấy từ rất xa.

7. Nhà thờ công giáo Igreja de Nossa Senhora da Penha

Nhà thờ được xây dựng vào năm 1782 trên đỉnh Morro do Cariri ở Penha. Từ trên nhà thờ du khách có thể nhìn thấy được toàn cảnh của thành phố. Không chỉ thế phong cách kiến trúc bên trong nội thất của nhà thờ cũng làm cho du khách phải trầm trồ ngạc nhiên. Để lên được nhà thờ cần phải leo lên 382 bậc thang.

BẬT MÍ NGÔI BIỆT THỰ ĐOẠT “4 GIẢI OSCAR”

Khi bộ phim “Ký sinh trùng- Parasite” được công chiếu tại Cannes thì nhiều vị giám khảo ( những đạo diễn phim kỳ cựu trong làng điện ảnh thế giới) nghĩ rằng đoàn làm phim đã thuê một ngôi nhà thật đẹp để quay các cảnh trong phim. Tuy nhiên, ngôi biệt thự của gia đình họ Park chỉ là một sét quay được xây dựng tỉ mỉ đến từng chi tiết.

Ngôi biệt thự trong bộ phim được thiết kế bởi kiến trúc sư Namgoong Hyeonja. Tuy nhiên đây là đứa con tinh thần của nhà thiết kế mỹ thuật Lee Ha Jun. Ngôi nhà trong bộ phim khác với mục đích thiết kế của kiến trúc sư là ngôi nhà xoay quanh con người và nhu cầu sử dụng của họ. Ở đây ngôi nhà được Lee Ha Jun thiết kế ngoài việc phù hợp với không gian sống thì nó còn ưu tiên cho việc dàn dựng cảnh của các nhân vật và các góc máy quay.

Đầu tiên, đạo diễn Bong gọi bộ phim này là “cầu thang” vì yếu tố bậc thang bên trong căn nhà tượng trung cho các giai cấp xã hội xuyên suốt từ hình ảnh đến câu chuyện được nêu trong phim. Cái tên “ ký sinh trung” được ông lấy cảm hứng từ trải nghiệm và nhân vật trong phim khi đi dạy gia sư: khi đó ông thấy mình như đang xâm nhập vào gia đình người khác.

Ngôi biệt thự trong bộ phim được xây dựng dựa trên rất nhiều tính toán về hướng ánh sáng, độ sáng ở từng khung giờ trong ngày. Bởi khi viết kịch bản thì đạo diễn đã nghĩ đến cách  mà mỗi nhân vật trong phim sẽ di chuyển ở trong nhà: cách các nhân vật đi xuống phòng ăn, đi từ phòng khách ra vườn, cách đứng ở cầu thang để theo dõi bếp ăn mà không bị phát hiện rồi vị trí trốn được khi có người bước vào trong phòng… Tất cả đều được đạo diễn tính toán một cách tỉ mỉ.

Mặc dù ngôi biệt thự là sét dựng lên để quay phim nhưng mỗi nội thất trong nhà đều có giá rất cao. Đoàn làm phim luôn luôn phải cẩn trọng khi quy phim để tránh làm vỡ, hỏng hay xước xác những món đồ nội thất đó.

Lee Ha Jun đã thuê người thiết kế những chiếc ghế, bàn, đèn trang trí, đèn ngủ để làm sao chúng vừa tạo cảm giác ấm áp, vừa tạo cảm giác lạnh lẽo như kim loại với những viền cắt thẳng. Rồi chiếc bàn ở trong phòng khách cũng được thiết kế và tính toán sao cho khi nhà gia đình nhà Kim nằm trốn dưới gầm bàn thì gia đình nhà Park ngồi trên ghế sofa không thể thấy được.

Mỗi đồ nội thất ở đây đều có giá rất cao điển hình như tấm rừng cây trang trí bằng lưới thép có giá  $120,000; bức tranh mèo có giá $50,000; bàn ăn có giá $22,300; bàn phòng khách được làm từ gỗ hoa anh đào có giá $19,800; chiếc đèn bằng đồng có giá $14,000; mỗi chiếc ghế ở bàn ăn có giá $2,100.

Phòng khách của ngôi biệt thự được thiết kế đặc biệt là không có tivi nhưng cửa sổ nhìn ra ngoài sân lại là cửa kính vĩ đại có tỉ lệ 2.35:1 như một bức màn hình khổng lồ chiếu quang cảnh ngoài sân.

Căn hầm của ngôi nhà cũng được thiết kế rộng để đủ không gian giàn dựng cảnh quay và góc quay.

Nhờ set quay y như thật mà dàn cast có thể tập trung diễn xuất và mang lại những cảnh quay làm nên tên tuổi của bộ phim.

TIMGAD – THÀNH PHỐ LƯU GIỮ BÁU VẬT KIẾN TRÚC CỦA NỀN VĂN MINH LA MÃ CỔ ĐẠI

Thành phố Timgad thuộc tỉnh Batna của Algeria ở châu Phi.Thành phố nằm dưới chân dãy núi Aurès – nơi đây đang lưu giữ báu vật kiến trúc của nền văn minh La Mã cổ đại.

1. Lịch sử thành phố

Thành phố Timgad được hoàng đế La Mã Trajan cho xây dựng vào khoảng năm 100 trước công nguyên. Ban đầu, thành phố có tên đầy đủ là Colonia Marciana Ulpia Traiana được xây dựng với mục đích nhằm chống lại sự xâm lược của quân đội Berber. Nơi đây được xây dựng như một pháo đài kiên cố. Những người dân đầu tiên của thành phố cổ này là các chiến binh người Parthian thuộc quân đội của Roma. Họ là những chiến binh phục vụ lâu năm cho hoàng đế La Mã nên được ban nhà của và đất đai.

2. Kiến trúc thành phố La Mã cổ đại

Thành phố cổ Timgad là một ví dụ điển hình nhất về tầm nhìn quy hoạch đô thị tuyệt vời của người La Mã với kiến trúc tinh vi  và đặc sắc. Thành phố được quy hoạch theo từng ô bàn cờ giống với lối quy hoạch của những thành phố La Mã thời trung cổ.

Thành phố Timgad ban đầu được thiết kế là một hình vuông hoàn hảo. Mỗi cạnh của thành phố có chiều dài chỉ 355m với 6 con đường lớn được giao nhau ở vị trí tạo thành bởi Cardo Maximus- con đường theo trục bắc nam với hàng cột Corinthian (loại cột có hoa văn trên đỉnh) và Decumanus Maximus – con đường theo trục đông tây. Những con đường trong thành phố đều nối về khu trung tâm- đây là một điểm đặc trưng trong phong cách quy hoạch kiến trúc các thành phố La Mã cổ. Điều này khiến người ta liên tưởng đến câu nói: “Mọi con đường đều dẫn về thành Rome.”.

Lúc đầu, thành phố cổ Timgad được thiết kế cho khoảng 15 nghìn cư dân sinh sống. Nhưng sau đó thành phố được mở rộng ra nhưng phần mở rộng có quy hoạch không được chặt chẽ như thành phố nguyên bản. Sau khoảng thời gian 300 năm thì kích thước thành phố lúc này đã lớn gấp 4 lân kích thước thành phố ban đầu và trở thành một thành phố nổi tiếng và sa hoa lộng lẫy. Nơi đây còn trở thành trung tâm Donatist – một nhánh của Thiên Chúa giáo.

Trong những thế kỉ đầu thì Timgad luôn được hưởng cuộc sống yên bình, tránh được nhiều cuộc chiến tranh xâm lược. Đến thế kỷ thứ 5, thì Timgad bị người Vandal xâm lược, sau đó là người Berber . Thành phố lúc này bì tàn phá nặng nề. Đến thế kỷ thứ 7 thì Timgad tiếp tục bị người Ả Rập xâm lược và tàn phá. Thành phố trở nên hoang tàn và dần dần bị lãng quên.

Đến năm 1881, thành phố Timgad được các nhà khảo cổ khai quật. Mặc dù thành phố nằm sâu dưới lớp cát sa mạc Sahara hàng chục thế kỷ nhưng nó vẫn còn lưu giữ được những nét kiến trúc độc đáo của người La Mã.  Thành phố vẫn còn giữ được một ngôi đền thờ thần Jupiter ở phía đông nam thành cổ Byzantine có kích thước tương tự như đền Pantheon ở Rome. Ngoài ra còn có một khải hoàn môn cao 12m ở phía cực tây Decumanus và một  nhà hát với sức chứa 3500 chỗ ngồi vẫn còn ở trong tình trạng khá tốt.

DẤU ẤN PHONG CÁCH KIẾN TRÚC THỜI TRẦN TRÊN ĐỈNH FANSIPAN

Quần thể văn hóa tâm linh Fansipan ở độ cao 3000m được thiết kế theo phong cách kiến trúc thời nhà Trần. Bất kỳ du khách nào đến đây lần đầu tiên đều sẽ bị choáng ngợp bởi cụm công trình kỳ vĩ này.

Theo như GS-KTS Hoàng Đạo Kính nói về công trình này: “Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, có lẽ chưa bao giờ con người xây dựng được một ngôi chùa ở đỉnh cao như Fansipan trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt”. Để xây dựng lên một công trình như mọc ra từ đá núi ngàn năm này thì chỉ có những người thợ, những người thiết kế mới hiểu được nỗi khó nhọc, vất vả mà họ đã từng trải qua.

Đây là tượng Phật A Di Đà cao 21,5m – cao nhất Việt Nam. Tượng Phật là công trình kiến trúc ấn tượng nhất trong quần thể văn hóa tâm linh ở Fansipan. Công trình bệ đỡ chân tượng được tạo nên từ đá khối. Những khối đá được chạm khắc phù điêu hoa sen, sóng nước và cả những chi tiết trang trí hình rồng. Đặc biệt nhất là bức tượng được trang trí hết sức kỳ công: trên thân tượng là những miếng đồng mỏng 0,5 cm được gắn với nhau.

Tất cả các công trình kiến trúc trong quần thể văn hóa tâm linh Fansipang như Bảo An Thiền Tự, Kim Sơn Bảo Thắng Tự, Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, Bích Vân Thiền Tự … đều kế thừa và phát huy những điểm tinh hoa trong kiến trúc Phật giáo nước ta từ thế kỷ 15 đến 16. Điển hình là lầu Đại Hồng Chung được làm theo lối kiến trúc lầu tám mái như những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Keo, chùa Tháp Bút, chùa Tây Phương.

Khi chiêm ngưỡng những công trình nơi đây, du khách dễ dàng nhận thấy dấu ấn kiến trúc của những ngôi chùa cổ từ thời nhà Trần như chùa Thầy, chùa Bối Khê, chùa Bà Tấm, chùa Thái Lạc… Bởi các họa tiết trang trí hình rồng và hoa sen tiêu biểu cho lối kiến trúc thời nhà Trần được thể hiện ở tất cả các hạng mục từ lớn đến bé của quần thể. Các họa tiết trang trí hình rồng được thể hiện trên các thiết thiết kế cửa gỗ. Họa tiết hình rồng thời Trần có thân hình mập hơn và dữ tợn hơn hình rồng thời nhà Lý để biểu tượng cho quyền uy, sức mạnh và sự thịnh vượng của triều đại.

Các kiến trúc sư thiết kế nên cụm công trình này đã giản lược đi cách đắp vẽ và trang trí. Họ cố gắng tạo ra những ngôi chùa không có nhiều màu sác, không có sự khuếch trương. Bởi vậy, cách trang trí những góc mái cũng được làm theo mẫu từ các di chỉ thành Thăng Long phục chế lại.

Một công trình khác nằm trong quần thể cũng khiến du khách không khỏi choáng ngợp là tòa bảo tháp 11 tầng được lắp ghép từ những tảng đá nguyên khối. Công trình kế thừa theo phong cách kiến trúc của chùa Phổ Minh (Nam Định).

Các công trình kiến trúc trong quần thể  tâm linh trên đỉnh Fansipang xứng đáng là “kỳ quan mới trong các kỳ quan”.

Những công trình kiến trúc Pháp nổi tiếng ở Hà Nội

Thủ đô Hà Nội có rất nhiều công trình kiến trúc Pháp cổ đang được bảo tồn và phát huy giá trị như Nhà thờ Lớn, Nhà hát Lớn, cầu Long Biên… Những công trình đó đều đã có tuổi đời 1 thế kỷ để lại những dấu ấn, nét chấm phá riêng cho phong cách kiến trúc Hà Nội.

1. Nhà thờ Lớn Hà Nội

Nhà thờ Lớn Hà Nôi- Nhà thờ chính tòa Thánh Giuse là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội. Đây là nơi thường xuyên diễn ra các sinh hoạt tings ngưỡng của các giáo dân thuộc tổng giáo phận Hà Nội. Nhà thờ được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothic, rất thịnh hành trong thế kỷ 12 và thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu. Nhà thờ được lấy cảm hứng từ Nhà thờ Đức Bà Paris với những mái vòm uốn cong hướng lên bầu trời. Nhà thờ là sự kết hợp giữa phong cách kiến trúc châu Âu và vật liệu truyền thống của địa phương: vật liệu chính để xây dựng nhà thờ là gạch đất nung và tường trát bằng giấy bổi. Nội thất bên trong nhà thờ là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây.

2. Cầu Long Biên

Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên ở Việt Nam bắc qua Sông Hồng nối quận Hoàn Kiếm với quận Long Biên của Hà Nội. Cây cầu được thiết kế và xây dựng bởi nhà thầu Pháp là công ty Daydé & Pillé . Cầu được khởi công xây dựng vào năm 1899 và hoàn thành vào năm 1902. Hiện nay trên cầu vẫn còn tấm biển kim loại có khắc chữ 1899-1902 – Daydé & Pillé – Paris. Lúc đầu cây cầu được đặt tên là Doumer – theo tên của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer lúc bấy giờ. Hiện nay tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I có lưu các bản vẽ thiết kế của cầu Long Biên. Trong bản vẽ có chữ ký của các kỹ sư của Daydé & Pillé và chữ ký phê duyệt bản vẽ của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer.

3. Nhà thờ Cửa Bắc

Nhà thờ Cửa Bắc là một công trình kiến trúc có nhiều nét độc đáo, tạo thêm điểm nhấn cho không gian Hà Nội. Kiến trúc nhà thờ là sự kết hợp hài hòa với không gian xung quanh nhưng vẫn đảm bảo sự trang nghiêm và gây được ấn tượng về sự siêu thoát.

4. Nhà hát Lớn Hà Nội

Nhà hát Lớn Hà Nội là một công trình phục vụ biểu diễn nghệ thuật. Công trình được thiết kế theo mẫu Nhà hát Opéra Garnier ở Paris nhưng tầm vóc bé hơn. Nhà hát được người Pháp khởi công xây dựng năm 1901 và hoàn thành vào năm 1911. Nhà hát được thiết kế bởi 2 Kiến trúc sư nổi tiếng lúc bấy giờ là Harlay và Broyer. Công trình mang nhiều đường nét và màu sắc kiến trúc của các nhà hát ở miền Nam nước Pháp.