Skip to content

Phương pháp trộn bê tông bằng tay

Khâu trộn bê tông quyết định đến chất lượng và độ bền của công trình.Vì thế bạn cần phải nắm rõ kỹ thuật của từng phương pháp trộn bê tông. Ở đây tôi xin giới thiệu với các bạn về phương pháp trộn bê tông bằng tay đúng kỹ thuật.

1. Kỹ thuật trộn bê tông

Quá trình trộn bê tông ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của bê tông hoàn thiện. Vì thế khi trộn bê tông cần phải tuân thủ và đảm bảo những yêu cầu về kỹ thuật sau:

+ Vật liệu trộn bê tông cần phải được cân đong theo đúng tỷ lệ về phần trăm khối lượng, không được để ra sai sót.

+ Bê tông trộn cần đảm bảo được mác và độ dẻo của bê tông theo đúng yêu cầu thiết kế.

+ Khi trộn bê tông bằng phương pháp thủ công thì lượng xi măng cần dùng cao hơn lượng xi măng của mác cần trộn.

+ Không nên trộn bê tông quá nhiều trong một mẻ trộn để tránh tình trạng căng cứng của bê tông. Chỉ nên trộn với số lượng đủ dùng hoặc phải trộn liên tục các mẻ bê tông nhỏ.

+ Trộn bê tông vào những ngày nắng gắt hoặc hanh khô thì không được đổ bê tông ra nắng quá lâu để tránh tình trạng bê tông bị đông cứng. Nếu trộn bê tông gặp phải trời mưa thì cần che bê tông lại để tránh tình trạng bê tông bị rỗ do nước mưa.

+ Vị trí trộn bê tông cần phải được làm bằng phẳng, không hút nước và kín nước. Nếu không thì phải được lót bằng thép tấm, tôn tấm dày để đảm bảo nước không và xi măng không bị hút đi trong quá trình trộn.

+ Nếu bê tông để quá lâu dẫn đến tình trạng căng cứng thì phải bỏ đi và tuyệt đối không được sử dụng lại vì bê tông đó đã chết.

2. Quy trình trộn bê tông bằng tay

a) Chuẩn bị

+ Dụng cụ trộng bê tông bằng tay gồm có: xô,  xẻng, cào cuốc…

+ Bãi trộn bê tông: bãi trộn cần có kích thước đủ rộng để đảm bảo chứa được hết vật liệu. Bãi trộn cần phải bằng phẳng, không hút nước và xi măng. Nên chọn bãi trộn là sân gạch, nền nhà hoặc nền đất có ván kê gỗ hoặc tấm kim loại. Bãi trộn cần được che nắng và mưa để không gây ảnh hưởng đến quá trình trộn.

b) Quy trình trộn bê tông bằng tay

+ Cân đong các vật liệu cát, xi măng, đá theo đúng tỷ lệ tương ứng với định mức cấp phối bê tông đã định.

+ Đầu tiên bạn cần trộn xi măng và cát cho thật đều với nhau.

+ Rải đá hoặc sỏi thành một lớp thật đều có độ dày từ 10cm đến 15cm.

+ Lấy hỗn hợp xi măng và cát đã trộng rải thật đều lên lớp đá hoặc sỏi vừa rải.

+ Trộn đều hỗn hợp đá, cát và xi măng ở trên.

+ Thêm nước từ từ vào hỗn hợp trên sau khi đã trộn đều, rồi dùng xẻng và cào để trộn.

+ Thời gian trộng một mẻ bê tông chỉ khoảng từ 15 đến 20 phút.

Với kinh nghiệm chia sẻ ở trên sẽ giúp bạn trộn bê tông bằng tay đúng với kỹ thuật.

NHỮNG CÔNG VIỆC PHẢI LÀM TRƯỚC KHI ĐỔ BÊ TÔNG SÀN MÁI

Muốn xây dựng được một ngôi nhà đẹp thì chủ đầu tư cần phải có quá trình chuẩn bị chu đáo từ tất cả mọi công việc. Từ công việc thiế kế đến quá trình thi công đều phải chuẩn bị thật kỹ lưỡng. Quá trình đổ mái cũng không ngoại lệ. Chủ đầu tư cần phải chuẩn bị tốt những công việc sau đây trước khi tiến hành đổ bê tông sàn mái:

1. Chuẩn bị máy móc thiết bị, nhân lực cho quy trình đổ bê tông

Bạn cần phải tính toán số lượng máy móc, thiết bị, số lượng nhân công phục vụ trong quá trình đổ mái. Công việc này bạn có thể bàn giao trực tiếp cho đơn vị thi công. Còn bạn có thể giám sát và theo dõi tiến độ thực hiện công việc.

2. Tính toán mặt bằng thi công đổ bê tông

Mặt bằng thi công đổ bê tông bao gồm ặt bằng sàn mái thi công và mặt bằng sàn dưới để chuẩn bị cho công tác vật liệu, trộn bê tông khi đổ mái. Việc chuẩn bị này rất quan trọng cho công tác thi công sau này.

3. Tính toán thời gian đổ bê tông

Việc tính toán thời gian thi công đổ bê tông là vô cùng quan trọng. Kính nghiệm thi công nhiều năm của chúng tôi cho thấy có rất nhiều trường hợp việc tính toán thời gian đổ mái không hợp lý dẫn đến nhiều kết quả không tốt:

+ Không đủ thời gian thi công mái dẫn đến bê tông không đáp ứng đủ thời gian thi công.

+ Trong lúc đổ mái gặp thời tiết xấu (mưa, bão…) gây ảnh hưởng đến chất lượng của bê tông mái.

+ Một số gia đình còn quan tâm đến vấn đề tâm linh: xem ngày giờ đổ mái để an tâm hơn sau này.

4. Công tác làm sạch, dọn dẹp cốp pha cốt thép

Nếu khâu dọn dẹp, làm sạch cốp pha, cốt thép không tốt sẽ làm phát sinh thời gian, nhân công trong quá trình đổ mái. Không chỉ có thế, nếu làm không tốt thì chất lượng bê tông mái, bê tông sau khi hoàn thiện sẽ không được đảm bảo do bị lẫn quá nhiều tạp chất.

Ngoài việc dọn dẹp làm sạch cần phải kiểm tra về kích thước khuôn đúc, các tiêu chuẩn về hình dáng, kích thước và thời gian sử dụng. Kiểm tra độ an toàn của  giàn giáo, sàn thao tác…

5. Kiểm tra số lượng và chất lượng của vật liệu xây dựng

Phải kiểm tra chất lượng của xi măng, cát, đá, sắt thép… để dảm bảo rằng chúng đáp ứng đủ yêu cầu về kỹ thuật. Nếu khâu này làm không tốt thì chất lượng của bê tông của công trình bị ảnh hưởng rất nhiều.

6. Kiểm tra chất lượng máy móc, thiết bị phục vụ công đoạn thi công

Việc tiến hành kiểm tra các loại máy móc, thiết bị phục vụ thi công như đầm bê tông, máy trộn bê tông, máy bơm bê tông, máy mài sàn bê tông, máy xoa nền … là một khâu quan trọng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của bê tông sau hoàn thiện.

7. Đảm bảo an toàn cho công nhân trong quá trình đổ mái

Dù là bất cứ công trình nào(cao tầng hay thậm chí là nhà cấp 4), sự an toàn đối với công nhân trong quá trình thi công luôn được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, phải kiểm tra hệ thống cốp pha, đà giáo bên dưới một cách thận trọng.

ĐÔI NÉT VỀ KIẾN TRÚC ROMAN

Phong cách kiến trúc Roman bắt đầu xuất hiện từ những năm 800. Nhưng phải đến thế kỷ thứ 10, khi mà nền nông nghiệp và thủ công nghiệp của các nước Tây Âu và Trung Âu có những bước phát triển nhất định, nhà của người dân không chỉ xây bằng gỗ mà còn có thể sử dụng thêm gạch và đá …tạo tiền đề cho phong cách kiến trúc Roman phát triển mạnh mẽ. Đến thế kỷ 11 , thế kỷ 12 thì phong cách kiến trúc Roman đạt được nhiều thành tựu và có nhiều nét riêng.

Dưới đây là những đặc điểm nổi bật của phong cách kiến trúc Roman:

Để tìm hiều được đặc điểm của kiến trúc Roman thì chúng ta cần phải biết về lịch sử các giai đoạn phát triển của Roman.

Ở thời kỳ đầu (chiến tranh loạn lạc và kinh tế xã hội không phát triển), người dân La Mã làm mái nhà của mình chủ yếu bằng gỗ nên chúng rất dễ cháy. Vì thế mà các tàn tích về nhà cửa của người dân ở thời kỳ này còn sót lại rất ít. Các nhà nghiên cứu khảo cổ chỉ có thể dựa trên những gì còn sót lại để phục dựng.

Thời kỳ tiếp theo (xã hội phát triển, cuộc sống của người dân được nâng lên), phong cách kiến trúc Roman có những bước tiến triển mới: các công trình kiến trúc Roman bắt đầu nhiều lên và cải thiện về mặt độ bền. Từ đây lối kiến trúc Roman mới hình thành lên những đặc điểm rõ rệt.

– Phần lớn các công trình kiến trúc Roman chịu sự ảnh hưởng không nhỏ của kiến trúc La mã cổ đại và kiến trúc Byzantine.

– Kiến trúc Roman không có sự đa dạng, không có sự cầu kỳ và quy mô lớn như kiến trúc La Mã cổ đại. Bề mặt các công trình kiến trúc Roman đều rất thô ráp, không sử dụng nhiều chi tiết trang trí, diện tích cửa sổ và cửa đi đều rất nhỏ.

– Kết cấu mái theo phong cách kiến trúc Roman ở các nhà thờ, tu viện và nhiều công trình khác sử dụng vòm nôi, vòm bán cầu. Các mái vòm đa phần được làm từ đá kỹ thuật hình chữ thập La tinh hoặc hình vuông và hình tròn nhỏ.

– Phong cách kiến trúc Roman về nhà thờ chủ yếu từ các mặt bằng chữ nhật ít gian. Mặt ngang nhà thường là ba nhịp, hai bên thấp hơn ở giữa. Chiều dài của nhà thờ thường gấp nhiều lần chiều ngang nhà. Mái nhà thờ thường lợp bằng bốn vòm theo kiểu kiến trúc của nhà thờ Bidangtin. Ánh sáng lọt vào trong nhà phần lớn qua các dãy cửa sổ hẹp ở gian chính từ trên cao hoặc các cửa sổ từ các gian bên.

– Thời kỳ cuối của Roman, phong cách kiến trúc Roman được thể hiện ở mặt nhà thường có những mảng trang trí phù điêu , cửa chia theo chiều ngang, ở hiên là những hàng cột lớn. Tuy nhiên các nhà thờ theo phong cách Roman thường có chiều cao vừa phải do kỹ thuật xây đá còn nhiều hạn chế.

 

Kiến trúc nhà ở của người Việt

Kiến trúc nhà ở truyền thống:

Kiến trúc việt chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa, lối sống cộng đồng… ngoài ra khí hậu, thổ nhưỡng, quan niệm phong thủy cũng có tác động lớn đến các công trình xây dựng truyền thống của người việt.

nhà truyền thống của người VIệt
nhà tranh vách đất thường dành cho nhà nghèo

Người việt thường chọn những vùng đồng bằng, nhiều sông ngòi để làm nhà từ đó hình thành xóm làng, bởi nơi đó thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi.

Đối với các công trình dân gian của người Việt thường được làm bằng tranh tre, vách đất, hoặc gỗ, một số ít là tường gạch và mái ngói. nền thường bằng đất hoặc gạch…Về hình thức, thì thường là ba gian hai chái hoặc nhà năm gian hai chái.

Người Việt thường lựa chọn hướng nam để xây nhà, bới theo văn hóa Việt thì hướng nam có nhiều thuận lợi về tâm linh, ngoài ra với hướng nam, các công trình thường đón được gió mát vào mua hè, đây cũng là ưu điểm lớn.

Kiến trúc nhà ở ngày nay:

Trong điều kiện phát triển của xã hội, kết hợp với sự giao thoa văn hóa từ Đông sang Tây ngày càng mạnh như ngày nay. Các công trình nhà ở cũng có nhiều sự chuyển biến, mà bắt đầu từ sự định hướng và quy hoạch đô thị.

Từ sự thay đổi của công nghệ xây dựng, vật liệu, lối sống… kiến trúc nhà ở Việt hiện nay đã hình thành những dạng nhà ở chính như sau:

Nhà biệt thự: là nhà biệt lập, có kích thước đất và nhà rộng, không gian xung quanh nhà thường rộng rãi với nhiều cảnh quan được bố trí.

nhà biêt thự
nhà biệt thự thường rộng và có nhiều tiện nghi

Với kiến trúc nhẹ nhàng, thiết kế nhà 8x12m nhiều mái cũng được nhiều người Việt ưa chuộng

Nhà liền kề: là dạng nhà được chia lô với diện tích đất hạn chế, đây là loại hình nhà lô phố với cách bố trí bám theo trục giao thông, nó chính là xu hướng chính trong quy hoạch đô thị ngày nay. Đây là loại hình phù hợp với bối cảnh hiện nay do tập tính văn hóa của người Việt, và chính dạng nhà này đã tạo nên những nét đặc trưng riêng của kiến trúc nơi thành thị nhờ vào sự linh hoạt, nó vừa có thể ở vừa có thể kinh doanh được.

nhà liền kề
hiện rất phổ biến trong quy hoạch đô thi nhờ tình linh hoạt và phù hợp với lối sống của người Việt

mẫu nhà đẹp 2 tầng rộng 7m rất đẹp ở Việt Nam

Nhà chung cư: dạng nhà ở căn hộ chung cư cũng là xu hướng phát triển nhanh bởi sự bùng nổ của dân số trong các đô thị lớn. Nhu cầu nhà ở ngày càng tăng mạnh, do đó ở các đô thị lớn người ta đã và đang thúc đẩy và phát triển mạnh mẽ loại hình nhà ở này.

Kết luận:

 Dù có nhiều thay đổi trong lối sống từ xưa đến nay nhưng quan niệm về ngôi nhà vẫn được kế thừa, trong không gian rộng rãi vùng nông thôn hay diện tích hạn chế nơi đô thị các ngôi nhà Việt vẫn giữ được những nét đặc trưng của nó.

Xem thêm:

kiến trúc truyền thống nông thôn nam bộ việt nam

XÂY NHÀ KIỂU NHẬT

   Con người Nhật Bản luôn ý thức được rằng, họ không được thiên nhiên ưu đãi như nhiều quốc gia khác. Họ phải tự thân nỗ lực để bù đắp chô những thiệt thòi đó. Mọi thứ họ làm ra đều có tính ứng dụng cao, không cầu kỳ và vô cùng tinh tế, thiết kế nhà là một trong những điều đó.

Cảnh quanh xung quanh nhà của người Nhật thường rất tĩnh và đẹp

Kiến trúc đơn giản

   Không phải nước nào khác, chính Nhật Bản cho cả thế giới biết rằng, kiến trúc đẳng cấp không nhất thiết phải đi đến từ sự rườm rà. Với họ, tính thực tế và công năng sử dụng được đặt lên hàng đầu. Mọi thứ đều vô cùng đơn giản, tiết kiệm, bền vững nhưng phải hết sức kỹ nghệ. Những ngôi nhà của họ toát lên sự kiên cố, không có màu sắc lòe loẹt hay những chi tiết thừa thãi nhưng vẫn vô cùng đẹp mắt và sang trọng

 

Kết cấu chính xác và siêu bền

Vật liệu:

   Người Nhật ưa chuộng các vật liệu tự nhiên, mang tính địa phương truyền thống, như tre, nứa, gỗ, giấy, sỏi, đá….

Móng:

  Để chống lại thiên tai, kiến trúc sư người Nhật thường thiết kế ngôi nhà có cấu trúc móng sâu trên nền phẳng được làm từ đất đá. Ngày nay, họ sử dụng kỹ thuật hiện đại để làm móng kết cấu bê tông, cốt thép chứ không dùng gỗ như trước đây.

Khung nhà:

   Khung nhà truyền thống Nhật Bản thường được làm bằng gỗ với mục đích hôc trợ các mái nhà lớn và mái hiên sâu. Ban đầu, nó được thiết kế với dầm ngang và cột dọc, nhưng hiện tại nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ kỹ thuật, người Nhật dùng thêm cả nẹp chéo

Tường nhà: Trước đây tường nhà người Nhật làm bằng tre, trát đất hai bên. Ngày nay, chủ yếu được làm bằng gỗ dán.

Cột nhà: Người Nhật xưa để cột ngoài tường, từ thời Meiji (1868 – 1912) , họ bắt đầu chuyển sang thiết kế nhà cột âm tường để phòng tránh hỏa hoạn.

Mái ngói, mái hiên rộng và dốc

   Nhà kiểu Nhật thường có phần mái nhà và phần mái hiên nghiêng dốc và  thấp xuống để thoát nước, Ngăn ánh nắng oi bức của mùa hè và đón ánh nắng ấm áp của mùa đông. Kích thước của mái hiên được nghiên cứu và tính toán dựa trên nhiều góc chiếu và quỹ đạo của mặt trời vào từng mùa, tại mỗi địa phương cụ thể. Ngày xưa, họ thường lợp mái bằng rơm, rạ; ngày nay họ thay thế bằng gạch, ngói hoặc lát đá để phòng chống cháy nổ và tăng độ bền.

Tiền sảnh và hành lang rộng

  Nhà kiểu Nhật thường có tiền sảnh và hành lang rộng. Nó vừa tăng sự bề thế, vừa là ranh giới ngăn cách giũa không gian bên trong và bên ngoài giúp ngôi nhà luôn sạch sẽ. Đây là lí do vì sao khi ghé thăm các gia đình Nhật Bản, bạn phải nhớ tháo giầy dép và xếp thật ngay ngắn trước khi bước vào nhà.

Sàn nhà cao

  Xuất phát từ khí hậu 4 mùa rõ rệt, người Nhật luôn làm sàn cao hơn nền vài chục centimet để tránh hơi ẩm đọng lại trên mặt đất, ấm về mùa đông, mát về mùa hè. Nó nằm bắt ngang từ bên này sang bên kia của cây xà gỗ. Khu vực tiền sảnh và gian bếp thường lát bằng sàn gỗ, nơi ngồi uống trà trong phòng khách được trải thảm tatami (một loại thảm được làm bằng cói). Với chất liệu êm ái này người Nhật có thể ngồi bệt thoải mái mà không sợ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Nội thất tối giản

   Kiến trức nhà kiểu Nhật là sự kết hợp hài hòa giữa 2 yếu tố nội – ngoại thất, truyền thống và hiện đại nhưng thân thiện với thiên nhiên và thế giới.

  Người Nhật chú trọng sự thanh lịch và thanh nhã nên họ kết hợp những gam mầu trung tính, tự nhiên như: xám, trăng, kem, nâu….làm nổi bật những chi tiết kiến trúc và đồ trang trí.

  Đồ đạc được thiết kế tối giản theo tiêu chí “càng ít càng tốt” với không gian trống và đồ đạc rất ít, mầu sắc và đường nét hài hòa với kiểu dáng đơn giản, trau truốt nhưng nhất mực tinh tế. Để làm được điều này, người Nhật thường sử dụng những đồ vật thấp, chẳng hạn như chiếc bàn uống trà giúp người sử dụng dễ dàng ngồi xuống sàn trải tatami.

  Hộc trang trí được người Nhật tận dụng để tạo điểm nhấn trong thiết kế nội thất. Trong đó, đồ đạc được sắp xếp logic và theo chủ đề nhất định. Hộc trang trí có thể thay đổi theo mùa hoặc dịp lễ tết.

Phòng khách

  Phòng khách thường được bố trí ở phía Bắc, hướng có ánh sáng chiếu mạnh, đồ đạc có kiểu dáng thông thường nhưng tiện dụng, bố trí hợp lý, gọn gàng.

Phòng ngủ

  Phòng ngủ thông thường không có nhiều đồ đạc, nhất là đồ điện tử, chỉ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tôn trọng tối đa không gian riêng tư, yên tĩnh và có sự kết nối với thiên nhiên.

  Người Nhật truyền thống có thể ngủ ngay trên nền nhà với thảm tatami cùng với một chiếc đệm trải bên dưới. Người Nhật hiện đại có thể ngủ trên giường nhưng nội thất không cầu kỳ.

  Tủ quần áo của họ thường có những bộ quần áo họ hay sử dụng, không có đồ đạc thừa thãi.

Nhà tắm 

  Thường nhỏ, hiện đại, thoải mái, tiện ích và ngăn nắp. Chẳng hạn, chỉ có một chiếc gương thôi nhưng có thể vừa soi, vừa là tủ đựng mỹ phẩm phía sau.

Nhà bếp

  Người Nhật thường bố trí hướng bếp ở phía Tây – nơi ánh sáng chứa nhiều tia cực tím vào buổi chiều. Phòng ăn thường được bố trí phía Bắc – nơi có ánh sáng chiếu mạnh. Không gian bếp của người Nhật thường chỉ bài trí một ít đồ đạc nhưng đủ phục vụ cho tất cả các nhu cầu cần thiết.

Cửa nhà

  Người Nhật truyền thống thường sử dụng cửa nhà trượt hoặc làm vách ngăn nhẹ (làm bằng gỗ và giấy) chỉ mang tính phân chia ước lệ – không có chức năng bảo vệ, có tính linh hoạt và cơ động cao để có thể tháo dỡ bất cứ lúc nào khi cần nhiều không gian hơn.

  Nhằm tạo sự thông gió tự nhiên cho ngôi nhà, cửa kiểu Nhật thường đặt theo phí Nam, thiết kế theo kiểu đối lưu để tạo bầu không khí thoáng đãng, dễ chịu, trong lành. Nếu muốn tận dụng triệt để hơn nguồn năng lượng tự nhiên này, họ dùng cửa trượt xuyên ánh sáng, nhằm tiết kiệm không gian đồng thời tăng tính thẩm mỹ và sự liên kết với thế giới tự nhiên bên ngoài.

Góc học tập và làm việc

  Góc học tập và làm việc thường được bố trí phía Bắc, nơi có ánh sáng ban ngày ổn định. Nó có thể rộng hay hẹp nhưng nhất định phải thoáng đãng, tiện ích và thật sự ngăn nắp.

Vườn

  Vườn là yếu tố không thể thiếu trong mỗi ngôi nhà của người Nhật bởi nó mang tính liên tục với 2 không gian nội thất và ngoại thất. Do đó, họ có thể trồng cây ở bất cứ đâu trong ngôi nhà của mình mang lại sinh khí, sự mới mẻ và sức khỏe tới cho gia chủ.

  Với  kiểu thiết kế như trên, rõ ràng cách làm nhà của người Nhật vô cùng khoa học, đơn giản nhưng mang tính nhân văn sâu sắc. Họ tính toán tận dụng triệt để diện tích trong nhà sao cho cơ động nhất, thoáng nhất và có ích nhất. Mọi không gian từ ngoài vào trong đều thân thiện với môi trường, lấy tinh thần và sức khỏe đặt nên hàng đầu.Họ không cần cầu kỳ trong bày biện đồ đạc, càng không quan tâm nhiều tới tuổi tác hay vận mệnh của con người